Tổng số hộ toàn xã ( tính đến thời điểm 02/11/2016 ): 1.472 hộ = 8.302 khẩu gồm có 8 dân tộc anh em cùng chung sống hòa thuận, sống xem kẽ cùng nhau; trong đó Mông chiếm 59,16%; dân tộc Tày chiếm 34,63%; dân tộc Dao chiếm 14,38%; dân tộc Kinh chiếm 0,59%; dân tộc Cờ lao chiếm 1,25%; Dân tộc Nùng chiếm 0, 59%; Dân tộc Giấy chiếm 4,11%; Dân tộc Xuồng chiếm 1,54%.
Ngọc Long là mảnh đất vốn có truyền thống lịch sử lâu đời, con nguời Ngọc Long có các dân tộc sinh sống từ lâu đời, ngày xưa dân số không đông, nhưng xã có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước. Nhân dân các dân tộc trên địa bàn xã có truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh bất khuất, kiên cường, cần cù lao động, sáng tạo, có sự đoàn kết gắn bó với nhau trong lao động sản xuất. Đó chính là cơ sở để gắn kết các dân tộc trong cộng đồng cùng đấu tranh để sinh tồn và phát triển.
Đã bao đời nay đồng bào các dân tộc xã Ngọc Long cư trú theo quan hệ huyết thống hoặc sống xen kẽ với nhau, nhưng dù cư trú theo hình thức nào, nhân dân Ngọc Long vẫn giữ vững truyền thống đoàn kết yêu thương với những đức tính: cần cù, chịu khó, dũng cảm đấu tranh chống giặc ngoại xâm: Thời kỳ Thực dân Pháp xâm lược Nhân dân xã Ngọc Long đã có truyền thống đứng lên lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống thực dân Pháp tại xã Ngọc Long bằng các phong trào đấu tranh du kích, do các Đồng chí xã đội chỉ huy và một số công dân có tinh thần yêu nước, yêu quê hương, ham mgia bộ đội kháng chiến chống pháp và đã anh dũng hy sinh như Liệt sĩ Nguyễn Văn Lễ; Trương Văn Phướng; Lộc Văn Bương. Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước cũng như trong đấu tranh bảo vệ biên giới, có nhiều thanh niên tham gia du kích hăng hái chiến đấu không ngại hy sinh, gian khó để tham gia chiến đấu bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc.
Trong lao động các dân tộc tích cực khai phá, cải tạo đất để khai hoa, phục hóa. Trải qua nhiều năm tháng lao động sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi đã trở thành nghề chính của nhân dân. Đồng thời để đảm bảo cho đời sống tự cung, tự cấp, nhân dân xã Ngọc Long rất thành thạo và khéo léo trong nghề thủ công đan lát mây tre, trồng bông, cây lanh dệt vải, nhuộm tràm tạo nên những bộ y phục dân tộc tinh sảo và đẹp mắt.
Cùng với truyền thống đấu tranh, trong lao động, sản xuất đã nảy sinh, kết tinh nên ngôn ngữ và truyền thống văn hóa riêng của mỗi dân tộc làm phong phú thêm nền văn hoá của dân tộc Việt nói chung và các dân tộc của xã Ngọc Long nói riêng. Những câu tục ngữ, ca dao, những chuyện cổ tích thần thoại giải thích nguồn gốc dân tộc, phản ánh khát vọng cuộc sống, những bài hát ca ngợi quê hương, những bài hát đối, hát giao duyên của dân tộc Xuồng; dân tộc Dao... Hay các lễ hội xuân, hội ngô, lúa mới của Dân tộc Tày, dân tộc Dao ...và những đường nét hoa văn tinh xảo trên trang phục, đồ trang sức của các dân tộc Mông; dân tộc Giấy thể hiện sinh động đặc sắc, phong phú đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc trên địa bàn xã.
Về tín ngưỡng tôn giáo: Ở mỗi thôn bản dân tộc Tày, Giấy, Mông, Dao, Xuồng..chủ yếu thờ cúng tổ tiên tại gia đình. Mỗi dòng, nhóm, họ thờ cúng một thần linh riêng, không xây dựng đình và miếu.
Trước cách mạng tháng 8 năm1945 dưới chế độ phong kiến thực dân, chúng thực hiện chính sách ngu dân để dễ bề cai trị bằng cách chia rẽ các dân tộc, dòng họ làm cho dân tộc này kỳ thị dân tộc kia, thu thuế nặng, khai thác cướp bóc tài nguyên, kìm hãm phát triển kinh tế, nên nền kinh tế không phát triển, chỉ sản xuất độc canh cây ngô, cây lúa cả xã không có cửa hàng, cửa hiệu. Giai đoạn này tuy sản phẩm hàng hóa từ rừng rất sẵn có song người dân lại không được tự do thu hái mang đi trao đổi, vì ở đâu bọn thống trị cũng đặt đồn, trạm kiểm soát để canh thu thuế và sát phạt nhân dân. Do vậy, đời sống của nhân dân các dân tộc trong xã rơi vào cảnh vô cùng thiếu thốn và cực khổ, đói kém quanh năm; có ít ruộng, ít nương thì phải nộp tô thuế cao, còn nếu nhận đất làm thuê cho địa chủ thì cũng phải nộp tô cao. Do vậy chỉ còn cách duy nhất là đi làm thuê, làm mướn hàng ngày cho địa chủ. Người không có sức lao động chỉ còn đi bẫy chim, bắt ốc, hái rau rừng, đi đào củ mài để ăn, đời sống bấp bênh qua ngày đoạn tháng.
Khi trong nhà có người ốm thì chữa bằng kinh nghiệm dân gian (thuốc nam), nếu bệnh không khỏi thì nhờ vào thầy cúng, thầy mo. Trong nhà không có lễ vật để cúng thì phải đi cầm cố, vay lãi nặng của nhà giàu. Những người tin vào cúng có khi vẫn qua đời, tiền mất, nợ nần nỗi khổ sở đổ vào đầu người sống gánh chịu, do vậy cuộc sống của người dân cứ đói khổ triền miên. Gia đình nào có khá lắm cũng chỉ nuôi được năm, bảy con gà, hoặc một con lợn (do không có lương thực để chăn nuôi).
Về văn hoá: 100% người dân là mù chữ, chỉ có vài nhà giàu thuê thầy về dạy chữ hán nôm cho con học. Mỗi khi có việc gì cần phải viết đơn, văn tự bán nhà hoặc đất đai thì đều phải đi thuê thầy viết hộ. Khi người dân đã không biết cái chữ thì mọi thông tin cũng mù tịt, mọi việc chỉ truyền lại cho nhau bằng miệng. Do vậy rất khó cho sự tiếp thu, song lại rất dễ cho quan lại cai trị vì chúng nói sao dân phải nghe vậy nhiều người dân thiếu sự hiểu biết về xã hội và các thông tin cần thiết dẫn đến mê tín dị đoan và mu muội, lạc hậu.
Về đời sống xã hội, dưới chế độ thực dân phong kiến nhân dân chịu nhiều khổ cực. Trong điều kiện một nền sản xuất tự túc, tự cấp, phân tán nhỏ bé, kỹ thuật canh tác lạc hậu hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên, năng suất thấp, bấp bênh lại bị bọn thực dân, phong kiến, địa chủ thổ ty vơ vét, cướp đoạt làm cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc hết sức khổ cực. Quần chúng nhân dân lao động chẳng những đói rét, mù chữ, bệnh tật mà còn thiếu cả nước uống, muối ăn và các mặt hàng thiết yếu khác. Dưới sự áp bức, bóc lột, đầu độc của thực dân và phong kiến, nhân dân trong huyện ngày càng nghèo đói, ốm đau, chết dần, chết mòn. Tình hình đó quyết định thái độ chính trị của mỗi giai cấp, tầng lớp trong xã hội, nhất là quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh quyết liệt giữa một bên là lực lượng đông đảo quần chúng nhân dân bị thống trị và một bên là đế quốc thực dân và bọn phong kiến tay sai áp bức bóc lột.
Gắn với truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, con người và mảnh Ngọc Long nói riêng và trên địa bàn huyện Yên Minh nói chung đã làm nên một bề dày truyền thống anh hùng, bất khuất chống ngoại xâm và chinh phục thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại và phát triển. Trải qua quá trình đấu tranh ấy, biết bao thế hệ người Ngọc Long đã nối tiếp nhau đứng lên đấu tranh với kẻ thù, với thiên nhiên, tô thắm thêm trang sử truyền thống của mình.
Từ bao đời nay với truyền thống cần cù, chịu khó, sáng tạo, với ý chí, tự lực, tự cường, đồng bào các dân tộc trên địa bàn xã Ngọc Long đã gắn bó với làng bản, ruộng nương, kiên trì đấu tranh với thiên nhiên, khắc phục những điều kiện nghiệt ngã làm ra hạt thóc, hạt ngô, manh áo để tồn tại và phát triển, xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, tốt đẹp hơn.